• Integrated Circuit Design - Chia sẻ kiến thức về vi mạch

    Vi mạch và Ứng dụng

  • Integrated Circuit Design - Chia sẻ kiến thức về vi mạch

    Vi mạch và Ứng dụng

  • Integrated Circuit Design - Chia sẻ kiến thức về vi mạch

    Vi mạch và Ứng dụng

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

[Verilog][System Verilog] Thế nào là Verilog hoặc System Verilog khả tổng hợp?

1. Giới thiệu
Verilog là một trong hai ngôn ngữ mô tả phần cứng thông dụng và sử dụng phổ biến trong công nghiệp hiện nay, ngôn ngữ kia là VHDL, tên viết tắt của VHSIC (Very High Speed Integrated Circuits) Hardware Description Language. Tuy có nhiều sự so sánh hơn thua giữa Verilog và VHDL nhưng theo quan điểm của cá nhân tôi các bạn sử dụng thành thạo ngôn ngữ nào phục vụ trực tiếp và tốt nhất cho công việc, sở thích và đam mê của bạn thì nó là tuyệt vời nhất. Từ nền tảng đó, bạn có thể dễ dàng mở rộng thêm đến các ngôn ngữ khác khi cần thiết. "Một nghề cho chín còn hơn chín nghề" là câu nói rất đáng để suy ngẫm đối với người làm kỹ thuật.

Chọn ngôn ngữ nào để bắt đầu học? đó luôn là câu hỏi đau đầu cho những người mới bắt đầu. Tôi xin để link một bài viết hay nguyên văn ở đây để các bạn nào phân vân có thể tìm thấy cấu trả lời của mình.

http://www.bitweenie.com/listings/verilog-vs-vhdl/

và một vài ý kiến của người có kinh nghiệm lâu năm:

http://www.eetimes.com/author.asp?doc_id=1283049


Quay lại vấn đề chính, Verilog HDL khả tổng hợp (Verilog for Synthesis, Synthesizable Verilog) là một phần (tập con) của ngôn ngữ Verilog và System Verilog.

Hình 1. Mối liên quan giữa các phiên bản ngôn ngữ mô tả phần cứng
Hình 1 minh họa rõ mối liên quan giữa các phiên bản ngôn ngữ, trong đó Verilog-1995 được bao hàm trong Verilog-2001, Verilog-2001 được bao hàm trong Verilog-2005 và System Verilog bao hàm các phiên bản Verilog nói chung.

Verilog, gọi tắt cho Verilog 1995/2001/2005, đã gồm 2 phần là:
  1. Phần ngôn ngữ tổng hợp được, hay gọi là khả tổng hợp (Synthesis)
  2. Phần ngôn ngữ dành cho mô phỏng (Verification)
Tuy nhiên, Verilog bị giới hạn nhiều về mô tả mô hình hệ thống và mô hình mô phỏng nên System Verilog ra đời đem lại sự nâng cấp mạnh mẽ cho Verilog không chỉ trên phương diện mô phỏng mà còn trên phương diện mô tả phần cứng tổng hợp được. Điều này làm cho các kỹ sư thiết kế phần cứng cần phân biệt rõ giữa thành phần khả tổng hợp và thành phần chỉ có thể dùng để mô tả mô hình mô phỏng.

2. Khả tổng hợp là gì?

Verilog khả tổng hợp là khả năng của RTL (Register Transfer Level) code viết bằng Verilog được phần mềm tổng hợp (synthesis tool) hiểu và biên dịch thành "phần cứng" (netlist) hoạt động chính xác theo những hành vi, chức năng mà RTL code thể hiện. "Phần cứng" ở đây là các thành phần logic như cổng OR, AND, XOR, Flip-Flop, MUX, AOI, ... gọi chung là các cell chuẩn (standard cell) được tập hợp trong một thư viện chung gọi là thư viện tổng hợp (synthesis library) hay thư viện công nghệ (technology library) hay thư viện cell chuẩn (Standard cell library).

Hình 2. Tổng hợp RTL code
Các phần mềm mô phỏng (verification) như VCS (Synopsys), Questasim (Mentor), ModelSim (Mentor), Incisive (Cadence) ... có thể hiểu toàn bộ các thành phần quy định trong chuẩn ngôn ngữ Verilog, System Verilog quy định nhưng phần mềm tổng hợp chỉ hiểu và biên dịch được một phần ngôn ngữ nhất định và phần ngôn ngữ đó được gọi là phần có thể tổng hợp được.

3. Ví dụ về sự khác nhau giữa Verilog khả tổng hợp và Verilog mô phỏng

Ví dụ, bạn có thể mô tả một thanh ghi như sau:

module veriloghdl_1 (clk, data_in, data_out);
//
//Interface
//
input clk;
input [3:0] data_in;
output reg [3:0] data_out;
initial begin
  data_out[3:0] = 4'b0000;
end
always @ (posedge clk) begin
  data_out[3:0] <= data_in[3:0];
end
endmodule 

Với đoạn code trên, bạn mong muốn thanh ghi data_out[3:0] được khởi động giá trị ban đầu là 0. Với các phần mềm mô phỏng, bạn có thể thấy được kết quả mong muốn đúng như đoạn code trên mô tả. Hình dưới đây cho thấy data_out[3:0] sẽ bằng 4'b0000 ngay từ thời điểm bắt đầu mô phỏng cho đến cạnh lên thứ nhất của xung clock clk.

Hình 2. Mô phỏng đoạn code của module veriloghdl_1
Ở đây tôi dùng phần mềm ModelSim và testbench có nội dung đơn giản như sau để chạy mô phỏng:
module tb;
//
//Interface
//
reg clk;
reg [3:0] data_in;
wire [3:0] data_out;
veriloghdl_ex dut (clk, data_in, data_out);
initial begin
  data_in = 4'b1010;
  clk = 0;
forever #10 clk = !clk;
end
endmodule
Mục đích của testbench trên là cấp giá trị data_in[3:0] và cấp xung clock clk có chu kỳ là 20 đơn vị thời gian mặc định của trình mô phỏng.

Tuy nhiên, nếu đoạn code của module veriloghdl_1 được tổng hợp thành netlist thì phần cứng được tạo thành chỉ là thanh ghi 4 bit không có giá trị khởi tạo ban đầu là 4'b0000 initial là thành phần không thể tổng hợp được. Giá trị thực tế của thanh ghi data_out[3:0], tính từ khi được cấp nguồn (hoặc bắt đầu mô phỏng) đến cạnh lên thứ nhất của xung clock clk, là một giá trị không xác định. Giá trị không xác định ở đây không phải là giá trị lơ lửng không rõ mức logic mà phần cứng thực tế có thể mang giá trị logic 0 hoặc 1. Hình sau sẽ cho thấy sự khác biệt.

Hình 3. Mô phỏng module veriloghdl_1 ở mức cổng (gate level) ứng với phần cứng thực tế
Trước cạnh lên thứ nhất của xung clock clk, giá trị thanh ghi là không xác định nhưng được lái về một giá trị nào đó, ví dụ như 4'b0000 như hình minh họa. Sau cạnh lên của xung clock clk, giá trị thanh ghi data_out[3:0] sẽ lấy giá trị data_in[3:0]. Vì đây là mô phỏng mức cổng nên các bạn sẽ thấy data_out[3:0] phải mất một khoảng thời gian trễ sau cạnh xung clock trươc khi đạt giá trị ổn định.

Xin lưu ý với các bạn, hình 3 là hình tôi mô phỏng trên phần cứng FPGA để minh họa nên kết quả mô phỏng sẽ hơi khác so với khi bạn tổng hợp trên thư viện công nghệ vi mạch. Cụ thể, đoạn thời gian từ khi bắt đầu mô phỏng đến cạnh lên thứ nhất của xung clock sẽ được thể hiện hoàn toàn bằng màu đỏ, biểu thị giá trị không xác định.

Vậy để viết một thanh ghi phần cứng có thể khởi động giá trị ban đầu thì làm sao? Câu trả lời là mô tả thêm tín hiệu reset kèm giá trị khởi tạo. Ví dụ như đoạn RTL code sau dùng reset mức thấp và bất đồng bộ:

module veriloghdl_2 (clk, rst_n, data_in, data_out);
//
//Interface
//
input clk;
input rst_n;
input [3:0] data_in;
output reg [3:0] data_out;
always @ (posedge clk, negedge rst_n) begin
  if (~rst_n)
 data_out[3:0] <= 4'd0;
else
    data_out[3:0] <= data_in[3:0];
end
endmodule 
Đoạn testbench dùng để mô phỏng code trên như sau (thêm đoạn lái tín hiệu reset rst_n)

module tb;
//
//Interface
//
reg clk;
reg rst_n;
reg [3:0] data_in;
wire [3:0] data_out;
veriloghdl_ex dut (clk, rst_n, data_in, data_out);
initial begin
  data_in = 4'b1010;
  clk = 0;
forever #10 clk = !clk;
end
initial begin
  rst_n = 0;
#20
rst_n = 1;
end
endmodule 

Hình 4. Mô phỏng module veriloghdl_2 ở mức cổng (gate level) ứng với phần cứng thực tế
Kết quả khi rst_n = 0, thanh ghi được reset về giá trị 4'd0 và giữ giá trị này đến khi rst_n=1 và gặp cạnh lên xung clock mới cập nhật ngõ vào data_in[3:0].

Ví dụ trên đây là là một phần nhỏ trong sự khác biệt giữ mô tả RTL code khả tổng hợp và code chỉ dùng cho mô phỏng. Những thành phần Verilog nào là khả tổng hợp sẽ được giới thiệu đến các bạn trong các bài viết khác.

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

[Verilog] RTL code mô tả các loại bộ đếm - counter

Bài viết này mô tả mạch nguyên lý và RTL code của các loại bộ đếm thông dụng như bộ đếm binary, bộ đếm Gray, bộ đếm Ring, Johnson và modulo-N.
1. Bộ đếm binary
Bộ đếm binary có các đặc điểm sau đây: 
  • Bộ đếm lên/xuống tuần tự
  • Có reset đồng bộ mức thấp
  • Có tín hiệu nạp giá trị cho bộ đếm
  • Số lượng bit của bộ đếm là N
  • Có tín hiệu báo bộ đếm đang hoạt động đếm lên hoặc đếm xuống
Loại bộ đếm này rất thông dụng trong các thiết kế số để chia tần số, đếm số xung, giám sát động rộng tín hiệu, tạo địa chỉ truy cập bộ nhớ, ... Tất nhiên, tùy vào ứng dụng thực tế bộ đếm sẽ có những tùy biến khác nhau.
Hình 1. Mạch nguyên lý bộ đếm binary
RTL code cho bộ đếm binary:
module bin_counter (clk, rst_n, load, count_up, count_down, init_value, binary_count, count_on);
parameter N = 4;
////Interface
input clk;
input rst_n;
input load;
input count_up;
input count_down;
input [N-1:0] init_value;
output reg [N-1:0] binary_count;
output wire count_on;
always @ (posedge clk) begin
  if (~rst_n) binary_count[N-1:0] <= 0;
  else if (load) binary_count[N-1:0] <= init_value[N-1:0];
  else begin
    case ({count_up, count_down})
      2'b10: binary_count[N-1:0] <= binary_count[N-1:0] + 1'b1;
      2'b01: binary_count[N-1:0] <= binary_count[N-1:0] - 1'b1;
    endcase
  end
end
assign count_on = (count_down | count_up) & ~load;
endmodule
2. Bộ đếm theo mã Gray
Mã Gray có đặc điểm là 2 giá trị liên tiếp nhau chi khác nhau một bit. Mã Gray có thể được chuyển đổi từ mã binary thông qua quy tắc sau: 
  • Bit MSB của mã Gray bằng bit MSB của mã binary
  • Bit thứ n trong mã Gray bằng bit thứ n XOR với bit thứ n+1 trong mã binary
Hình 2. Mạch nguyên lý chuyển đổi từ mã binary sang mã Gray N bit
Hình 3. Ví dụ về bảng chuyển đổi giữa mã binary và gray 4 bit
Để thực hiện được một bộ đếm mã Gray, chúng ta chỉ cần thêm mạch chuyển đổi từ mã binary sang mã Gray như hình 2 vào ngõ ra bộ đếm binary. RTL code của bộ đếm mã Gray N bit như sau:
module gray_counter (clk, rst_n, load, count_up, count_down, init_value, gray_count, count_on);
parameter N = 4;
////Interface//
input clk;
input rst_n;
input load;
input count_up;
input count_down;
input [N-1:0] init_value;
output reg [N-1:0] gray_count;
output wire count_on;
reg [N-1:0] binary_count;
always @ (posedge clk) begin
if (~rst_n) binary_count[N-1:0] <= 0;
else if (load) binary_count[N-1:0] <= init_value[N-1:0];
else begin
 case ({count_up, count_down})
 2'b10: binary_count[N-1:0] <= binary_count[N-1:0] + 1'b1;
 2'b01: binary_count[N-1:0] <= binary_count[N-1:0] - 1'b1;
 endcase
end
end
assign count_on = (count_down | count_up) & ~load;
//Binary to Gray
integer i;
always @ (*) begin
 gray_count[N-1] = binary_count[N-1];
 for (i = 0; i < N-1; i = i + 1) gray_count[i] = binary_count[i] ^ binary_count[i+1];
end 
endmodule
3. Bộ đếm vòng - Ring counter
Bộ đếm vòng hoạt động như một thanh ghi dịch. Nó sẽ dịch một giá trị đã nạp trước trong một vòng khép kín theo xung clock.
Hình 4. Bộ đếm vòng
Hình 4 là bộ đếm vòng đơn giản có một tín hiệu load để nạp giá trị ban đầu. Nếu load = 0, bộ đếm sẽ hoạt động liên tục theo xung clock.
Hình 5. Ví dụ về bộ đếm vòng 4 bit với giá trị khởi động được nạp là 0001
RTL có của bộ đếm vòng N bit như sau:
module ring_counter (clk, rst_n, load, init_value, ring_count);
parameter N = 4;
////Interface
input clk;
input rst_n;
input load;
input [N-1:0] init_value;
output reg [N-1:0] ring_count;
always @ (posedge clk) begin
if (~rst_n) ring_count[N-1:0] <= 0;
else if (load) ring_count[N-1:0] <= init_value[N-1:0];
else ring_count[N-1:0] <= {ring_count[N-2:0], ring_count[N-1]};
end
endmodule
4. Bộ đếm Johnson
Bộ đếm Johnson là một loại bộ đếm theo kiểu dịch như bộ đếm vòng trên đây. Điểm khác biệt là bộ đếm Johnson là ngõ vào của LSB (bit 0) sẽ lấy bù của ngõ ra bit MSB (bit N-1).
Hình 6. Ví dụ về bộ đếm Johnson 4 bit
Hình 7. Mạch nguyên lý bộ đếm Johnson N bit
RTL code của bộ đếm Johnson N bit:
module johnson_counter (clk, rst_n, js_count);
parameter N = 4;
////Interface
input clk;
input rst_n;
output reg [N-1:0] js_count;
wire js_msb_inv;
assign js_msb_inv = ~js_count[N-1];
always @ (posedge clk) begin
if (~rst_n) js_count[N-1:0] <= 0;
else js_count[N-1:0] <= {js_count[N-2:0], js_msb_inv};
end
endmodule
5. Bộ đếm Modulo-N
Modulo-N, viết tắt là MOD-N, là bộ đếm có N trạng thái tuần tự. Giả sử các trạng thái đó tuần tự từ 0 đến N-1 thì sau N-1, trạng thái bộ đếm sẽ quay về 0. Ví dụ, bộ đếm MOD-3 sẽ có chuỗi trạng thái như sau: 0->1->2->(quay lại về 0). Bộ đếm có số bit là n thì có thể tạo thành bộ đếm modulo tối đa là MOD-2^n. Ví dụ, bộ đếm 2 bit thì tối đa là MOD-4, 3 bit thì tối đa là MOD-8. Như vậy, để tạo bộ đếm MOD-5, MOD-6 hoặc MOD-7 thì cần 3 bit.
Bộ đếm lên MOD-N với số bit tùy chọn có các đặc điểm sau đây: 
  • MODN là số trạng thái bộ đếm, tương ứng với số N trong ký hiệu MOD-N 
  • BITN là số bit của bộ đếm 
  • en là tín hiệu cho phép bộ đếm hoạt động 
  • rst_n là reset đồng bộ tích cực mức thấp
Hình 8. Mạch nguyên lý bộ đếm lên MOD-N
RTL code của bộ đếm MOD-N:
module mod_counter (clk, rst_n, en, mod_count);
parameter BITN = 3;
parameter MODN = 5;
////Interface//
input clk;
input rst_n;
input en;
output reg [BITN-1:0] mod_count;
always @ (posedge clk) begin
if (~rst_n) mod_count[BITN-1:0] <= 0;
else if (en) mod_count[BITN-1:0] <= (mod_count[BITN-1:0] + 1'b1)%MODN;
end
endmodule

Lịch sử cập nhật:
1) 2019.11.10 - Chỉnh link hình 

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

[Verilog] Làm thế nào để mô tả mạch tuần tự đồng bộ dùng Flip-Flop bằng ngôn ngữ Verilog

1. Mạch tuần tự đồng bộ dùng Flip-Flop

Mô hình mạch tuần tự đồng bộ dùng FF được minh họa trong hình sau.
Hình 1. Mô hình mạch tuần tự dùng FF (trái) và ví dụ (phải)

Mạch tuần tự dùng FF là mạch đồng bộ theo xung clock gồm các thành phần chính như sau:
  • Mạch tổ hợp là phần mạch tạo giá trị ngõ vào cho FF, mạch này thực hiện tính toán dựa trên các giá trị ngõ vào và giá trị hồi tiếp từ ngõ ra của FF (nếu có)
  • Flip-Flop (FF) là thành phần sẽ cập nhật giá trị từ mạch tổ hợp theo cạnh tích cực của xung clock, cạnh lên hoặc cạnh xuống, và giữ giá trị này đến cạnh tích cực tiếp theo. FF có thể được reset hoặc không tùy vào yêu cầu cụ thể của từng mạch.
Mạch bên phải của hình 1 là một ví dụ về mạch tuần tự, trong đó:

  • Mạch tổ hợp gồm:
    • MUX của tín hiệu sel[2:0] thực hiện chuyển đổi giá trị binary của sel[2:0] thành giá trị mã Gray
    • MUX của tín hiệu en thực hiện đưa giá trị chuyển đổi đến count_i[2:0] nếu en = 1. Nếu en = 0, count_i[2:0] sẽ lấy giá trị từ ngõ ra thanh ghi FF
  • Thanh ghi gồm 3 FF để lưu giá trị từ mạch tổ hợp hoạt động theo cạnh lên xung clock

2. Mô tả mạch tuần tự bằng Verilog

Việc mô tả mạch tuần tự sẽ gồm 2 phần:
  • Mô tả mạch tổ hợp
  • Mô tả thanh ghi (FF)

RTL code của ví dụ trên đây như sau:


module gray_count (sel, en, reset, clock, count_o);
//Interface
input [2:0] sel;
input en;
input reset;
input clock;
output reg [2:0] count_o;
//Internal signal
wire [2:0] count_i;
reg [2:0] gray_code;
//Combinational circuit
//Binary-gray converter
always @ (sel[2:0]) begin
 case (sel[2:0])
   3'b000: gray_code[2:0] = 3'b000;
  3'b001: gray_code[2:0] = 3'b001;
  3'b010: gray_code[2:0] = 3'b011;
  3'b011: gray_code[2:0] = 3'b010;
  3'b100: gray_code[2:0] = 3'b110;
  3'b101: gray_code[2:0] = 3'b111;
  3'b110: gray_code[2:0] = 3'b101;
  3'b111: gray_code[2:0] = 3'b100;
 endcase
end
//MUX enable
assign count_i[2:0] = en? gray_code[2:0]: count_o[2:0];
//Register
always @ (posedge clock) begin
  if (reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
 else       count_o[2:0] <= count_i[2:0];
end

endmodule

Mạch tổ hợp được mô tả bằng một khối always và một phát biểu assign. Việc mô tả một mạch tổ hợp các bạn hãy tham khảo ở bài khác trong trang này.

Việc mô tả một thanh ghi, thanh ghi là phần tử gồm một hoặc nhiều FF, cần quan tâm đến các vấn đề sau:

  • Mô tả cạnh tích cực của clock:
    • Cạnh lên (posedge)
    • Cạnh xuống (negedge)
  • Mô tả reset quan tâm đến 2 yếu tố:
    • Loại reset, đồng bộ hoặc bất đồng bộ. Reset đồng bộ là sự kiện reset phụ thuộc vào xung clock. Sự kiện reset chỉ xảy ra khi tín hiệu reset tích cực và có cạnh tích cực của xung clock. Reset bất đồng bộ là sự kiện reset xảy ra bất cứ khi nào tín hiệu reset tích cực, bất chấp xung clock.
    • Mức tích cực, mức cao hoặc mức thấp.

Hình 2. Sự khác nhau giữa reset đồng bộ và reset bất đồng bộ (mức tích cực của reset là mức thấp)
Đoạn RTL code ví dụ trên đây mô tả cạnh tích cực của clock là cạnh lên, loại reset sử dụng là đồng bộ với mức tích cực của tín hiệu reset là mức cao (mức 1).

Mô tả thanh ghi có reset đồng bộ tích cực mức thấp như sau:

always @ (posedge clock) begin
  if (~reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
 else       count_o[2:0] <= count_i[2:0];
end

Mô tả thanh ghi có reset bất đồng bộ tích cực mức cao như sau:

always @ (posedge clock, posedge reset) begin
  if (reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
 else       count_o[2:0] <= count_i[2:0];
end

Mô tả thanh ghi có reset bất đồng bộ tích cực mức thấp như sau:


always @ (posedge clock, negedge reset) begin
  if (~reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
 else       count_o[2:0] <= count_i[2:0];

end

Mô tả thanh ghi không có reset như sau:


always @ (posedge clock) begin
  count_o[2:0] <= count_i[2:0];
end

Tất cả các mạch tuần tự khác đều có thể được mô tả bằng cách tách tiêng phần mạch tổ hợp và và phần thanh ghi như trên. Tuy nhiên, thông thường một phần hoặc toàn bộ phần mạch tổ hợp có thể được mô tả chung với thanh ghi như các đoạn RTL code minh họa sau đây.

Mô tả gộp chung MUX của tín hiệu en và bỏ qua tín hiệu trung gian count_i[2:0]:


module gray_count (sel, en, reset, clock, count_o);
//Interface
input [2:0] sel;
input en;
input reset;
input clock;
output reg [2:0] count_o;
//Internal signal
reg [2:0] gray_code;
//Combinational circuit
//Binary-gray converter
always @ (sel[2:0]) begin
 case (sel[2:0])
         3'b000: gray_code[2:0] = 3'b000;
  3'b001: gray_code[2:0] = 3'b001;
  3'b010: gray_code[2:0] = 3'b011;
  3'b011: gray_code[2:0] = 3'b010;
  3'b100: gray_code[2:0] = 3'b110;
  3'b101: gray_code[2:0] = 3'b111;
  3'b110: gray_code[2:0] = 3'b101;
  3'b111: gray_code[2:0] = 3'b100;
 endcase
end
//Register
always @ (posedge clock) begin
  if (reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
  else if (en)
    count_o[2:0] <= gray_code[2:0];
  else count_o[2:0] <= count_o[2:0];
end
endmodule

Mô tả gộp chung tất cả phần mạch tổ hợp và thanh ghi, bỏ qua tín hiệu trung gian gray_code[2:0]:


module gray_count (sel, en, reset, clock, count_o);
//Interface
input [2:0] sel;
input en;
input reset;
input clock;
output reg [2:0] count_o;
//Register
always @ (posedge clock) begin
  if (reset) count_o[2:0] <= 3'b000;
 else if (en) begin
   case (sel[2:0])
            3'b000: count_o[2:0] <= 3'b000;
     3'b001: count_o[2:0] <= 3'b001;
     3'b010: count_o[2:0] <= 3'b011;
     3'b011: count_o[2:0] <= 3'b010;
     3'b100: count_o[2:0] <= 3'b110;
     3'b101: count_o[2:0] <= 3'b111;
     3'b110: count_o[2:0] <= 3'b101;
     3'b111: count_o[2:0] <= 3'b100;
    endcase
 end
 else count_o[2:0] <= count_o[2:0];
end

endmodule